EVN: 6 tháng, sản lượng điện thương phẩm đạt 91,78 tỷ kWh

.
Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 6/2018 đạt 19,3 tỷ kWh (trung bình 643,3 triệu kWh/ngày), lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 105,9 tỷ kWh, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017.
 
EVN cho biết  trong 6 tháng, sản lượng ngày lớn nhất đạt 711,3 triệu kWh và công suất lớn nhất đạt 34.154 MW (ngày 22/6). Hiện trào lưu truyền tải chủ yếu theo hướng từ miền Bắc vào miền Trung và vào miền Nam. Sản lượng truyền tải ước đạt 89,42 tỷ kWh, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó sản lượng truyền tải vào miền Nam khoảng 9 tỷ kWh, tương đương 21,5% nhu cầu điện miền Nam, mức truyền tải cao nhất trên giao diện Bắc - Trung là 2.400 MW và Trung - Nam là 3.950 MW.
 
Cùng với đó, EVN tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dịch vụ khách hàng, cải thiện chỉ số tiếp cận điện năng. Với việc triển khai Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và các năm tiếp theo, các Tổng Công ty Điện lực, Công ty Điện lực đã báo cáo UBND các tỉnh, thành phố triển khai cơ chế “1 cửa liên thông” trong việc giải quyết thủ tục cấp điện qua lưới điện trung áp. Qua đó đã cung cấp các dịch vụ tại Trung tâm Hành chính công của 14 tỉnh, thành phố; kết nối để cung cấp dịch vụ tại cổng dịch vụ công trực tuyến của 39 tỉnh, thành phố và đang tiếp tục làm việc để triển khai tại tỉnh, thành phố còn lại.
 
Các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện tiếp tục được cải thiện, tính chung toàn tập đoàn, trong 6 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 358,74 phút (giảm 18,4% so với cùng kỳ 2017), tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 0,83 lần/khách hàng, tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) là 3,18 lần/khách hàng.
 
Tổn thất điện năng trong 6 tháng là 6,7%, thấp hơn 0,5% so với kế hoạch phấn đấu năm 2018 (7,2%) của toàn tập đoàn. Đây là cố gắng rất lớn của các đơn vị trong công tác quản lý kỹ thuật, vận hành khi giảm được đáng kể thời gian cắt điện phục vụ thi công, giảm số lần và thời gian sự cố trong khi quy mô lưới điện không ngừng tăng lên và trong điều kiện thời tiết bất thuận./.
 
                                                                                                                          Toàn Thắng

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

Nguồn: www.stockbiz.vn